Chủ đề đã đóng 
 
Đánh giá chủ đề:
  • 1 Phiếu - 5 Trung bình
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Phong trào Tây Sơn (1771 - 1801)
30-10-2008, 02:56 PM
Bài viết: #1
Phong trào Tây Sơn (1771 - 1801)
1. GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ (trước năm 1771) Bước đường sa đọa của tập đoàn thống trị họ Nguyễn Từ giữa thế kỉ XVI, cơ đồ riêng của họ Nguyễn bắt đầu hình thành. Để xây dựng và củng cố cơ đồ riêng đó, họ Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách tương đối tích cực và tiến bộ. Chính vì thế, mâu thuẫn xã hội ở Đàng Trong không thực sự gay gắt như ở Đàng Ngoài. Từ năm 1627 đến năm 1672, giữa họ Trịnh và họ Nguyễn đã xảy ra bảy trận giao chiến quyết liệt. Sau năm 1672, với những thành công trong việc mở đất về phương Nam và tổ chức khẩn hoang, họ Nguyễn tiếp tục củng cố và giữ vững tính ổn định của xã hội Đàng Trong. Từ thế kỉ thứ XVIII trở đi, tập đoàn thống trị họ Nguyễn lao sâu vào con đường ăn chơi xa xỉ. Nếu các chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), Nguyễn Phúc Chú (1725 – 1738) và Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) chỉ mới là những người mở đường cho sự sa đọa thì đến chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), nhân cách và phẩm giá của giai cấp thống trị đã sụp đổ một cách thảm hại. Sử cũ chép: “Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi được nối nghiệp làm chúa, lấy hiệu là Khánh Phủ Đạo Nhân. Phúc Thuần còn có tên là Phúc Hân. Chúa tuổi trẻ, thích chơi bời múa hát, mắc bệnh không gần được đàn bà, bèn sai con hát dâm loạn với đám cung nữ để mua vui”. Trong triều đình chúa Nguyễn, Trương Phúc Loan nắm hết quyền hành, tự xưng là Quốc Phó, khét tiếng tham nhũng. “Loan hưởng ngụ lộc riêng, chỉ tính việc thu thuế lâm thổ sản ở các nguồn như Sái Nguyên, Thu Bồn, Trà Sơn, Trà Vân và Đông Hương đã có mỗi năm từ bốn đến năm vạn quan tiền. Hắn còn lãnh trưng các tạp vụ ở Hộ Tào, thu nhập thêm không dưới ba bốn vạn quan tiền nữa. Đã thế, hắn lại còn bán quan, thu tiền chuộc tội để làm giàu, vàng bạc châu báu và gấm vóc lụa là chất đầy như núi. Hắn có ruộng vườn, nhà cửa và nô bộc, trâu ngựa, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Loan có biệt thự ở xã Phấn Dương. Một năm, mùa thu nước lụt, hòm rương bị ướt hết. Đến khi nước rút, hắn đem vàng ra phơi giữa ban ngày, khiến cả một sân rộng rực sáng”. Để có đủ tiền chi phí cho cuộc sống xa hoa, tập đoàn thống trị ở Đàng Trong đã tiến hành hai biện pháp chính yếu. Một là bán chức tước và hai là tăng cường bóc lột nhân dân bằng sưu cao thuế nặng. Về việc bán chức tước, Lê Quý Đôn cho biết: “Có nơi một xã mà gồm những mười sáu hoặc mười bảy tướng thần (nhân viên thu thuế) và đến hơn hai mươi xã trưởng, đều cho được cùng làm việc”. Lê Quý Đôn còn cho biết một số trường hợp cụ thể với những chức tước và các khoản tiền phải nạp một cách rất chi tiết. Ví dụ: - Năm Bính Tuất (1766), ở huyện Phù Ly có viên tướng thần là Đoàn Phúc Chiêm đã nạp nhiều khoản tiền khác nhau, tổng cộng là 664 quan, 3 tiền, 6 đồng để được thăng chức làm kí phủ. - Người ở huyện Duy Xuyên là Nguyễn Kim Châu và người huyện Đông Xuân là Trần Văn Kiến phải nạp mỗi người tổng cộng các khoản là 277 quan, 1 tiền, 45 đồng để được làm kí huyện. - Người huyện Minh Linh là Dương Bá Tích, đang là con quan, đã nạp các khoản tiền tổng cộng là 165 quan, 2 tiền, 15 đồng để được làm cai tổng. - Người ở Phú Châu là Trần Văn Tình đã nạp các khoản tiền tổng cộng là 82 quan, 4 tiền, 30 đồng để được làm duyên lại. Biện pháp chính yếu thứ hai là tăng thuế. Trên danh nghĩa, thuế ở xứ Đàng Trong không cao, nhưng do chỗ giai cấp thống trị Đàng Trong càng ngày càng đặt ra lắm khoản phụ thu nên mức đóng góp của nhân dân rất nặng nề. Thống kê ghi chép của thư tịch cổ, chúng ta có thể kể ra đây mấy khoản phụ thu thường thấy như sau: - Gạo đầu mẫu. - Tiền trình diện (khi đến đóng thuế). - Tiền dầu đèn (dùng cho quan khi đi thu thuế). - Tiền trầu cau (dùng cho quan khi đi thu thuế). - Ngụ lộc cai trưng. - Tiền chuyên chở. - Tiền làm nhà kho. - Tiền làm bao (đựng thóc) và mua mây (xỏ tiền). - … Nếu từ khoảng giữa thế kỉ XVIII trở về trước, chế độ bóc lột ở Đàng Trong theo cách nói của Trịnh Hoài Đức là “pháp chế khoan dung giản dị” thì từ giữa thế kỉ XVIII trở về sau, đời sống của nhân dân Đàng Trong bị chèn ép nặng nề, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Đúng lúc đó, các phe phái trong nội bộ phủ chúa hình thành, không ngừng mâu thuẫn, xung đột và xâu xé lẫn nhau. Bấy giờ, phe quyền thần Trương Phúc Loan mạnh hơn cả, tự cho mình quyền ban phúc hoặc giáng họa cho bất cứ một ai. Sử cũ chép: “Trương Phúc Loan đã là một nhà quý hiển, quyền uy lấn át cả trong lẫn ngoài, lại còn đưa tay chân là Thái Sinh nắm giữ Hộ Bộ, đoạt về cho mình mọi chức trọng yếu. Hắn càng ngày càng kiêu căng và tàn nhẫn, làm điều càn quấy không biết sợ ai, người đương thời gọi hắn là Trương Tần Cối”. Thực trạng rối ren và bi đát của phủ chúa được thầy giáo Hiến cung cấp cho ba anh em Tây Sơn. Từ đất quê hương của mình, ba anh em Tây Sơn đã âm thầm chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy, trước là để cứu sinh linh trăm họ đang bị áp bức đọa đày, sau là “khuấy nước chọc trời”, làm thay đổi cả một trật tự xã hội lỗi thời và xấu xa.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 03:06 PM
Bài viết: #2
1. Giai đoạn chuẩn bị (trước năm 1771)
Quá trình chuẩn bị về mặt tư tưởng Muốn khởi nghĩa thành công, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải làm sao tạo ra được sự nhất trí cao độ trong nội bộ đồng bào các dân tộc quần cư ở Tây Sơn. Lòng căm phẫn của nhân dân đối với ách cai trị tàn bạo của tập đoàn họ Nguyễn thì có thừa, nhưng điều ấy không có nghĩa là ai ai cũng đều sẵn lòng tập hợp dưới ngọn cờ của ba anh em Tây Sơn. Xuất phát từ nhận thức ấy, ba anh em Tây Sơn đã kiên nhẫn và khôn khéo tìm nhiều biện pháp khác nhau để lôi kéo và tập hợp nhân dân, xây dựng một sự nhất trí cao độ. Hiện nay, nhân dân vùng Tây Sơn nói riêng, nhân dân Bình Định cùng các địa phương lân cận nói chung vẫn còn lưu truyền rất nhiều chuyện kể lí thú về quá trình chuẩn bị này. Dưới đây là tóm lược vài chuyện kể tiêu biểu nhất: Dùng gùi gánh nước để gây sự chú ý đầu tiên: Chuyện kể rằng, một hôm, Nguyễn Nhạc sai người đan cho mình hai cái gùi. Ông lấy nhựa cây trát kín bên trong và đem hai cái gùi đó đi gánh nước. Một số đồng bào trông thấy, cho là kì dị, liền hỏi rằng: - Không ai có thể dùng gùi để đựng nước, tại sao ông lại làm được như vậy? Nguyễn Nhạc đáp: - Tôi là người nhà trời. Người nhà trời làm việc tất nhiên là có chỗ không giống với người của hạ giới. Từ đó trở đi, khắp cả một vùng rộng lớn, người ta liên tục rỉ tai nhau rằng, Nguyễn Nhạc là người nhà trời. Họ nhìn ba anh em Tây Sơn với cái nhìn đầy cảm phục, nhưng cũng phảng phất chút hoài nghi. Gọi bầy ngựa hoang tới gần, đánh tan sự nghi hoặc: Bấy giờ, trong số những người phảng phất hoài nghi, có người mạnh dạn đề nghị phải thử để xác định rõ thực hư. Nhân vì ở núi Hiển Hách (cách Tây Sơn không xa) có bầy ngựa hoang rất nhát, hễ thấy bóng người từ xa là đã nhanh chân chạy mất. Đồng bào các dân tộc đương thời gọi là “ngựa trời”. Họ bèn đến gặp Nguyễn Nhạc và nói: - Nếu ông là người nhà trời thì ắt hẳn ông phải gọi được bầy ngựa trời ấy đến với ông. Nguyễn Nhạc bình tĩnh trả lời: - Điều ấy thì có gì là khó. Thực ra, Nguyễn Nhạc vẫn chưa biết làm sao để có thể gọi bầy ngựa hoang đến với mình. Về nhà, Nguyễn Nhạc nghĩ mãi, nghĩ mãi... Cuối cùng, ông ra chợ mua một con ngựa cái tơ. Ngày ngày, Nguyễn Nhạc cất công tập cho con ngựa một thói quen là hễ ông phát tín hiệu thì dù đang ở đâu, con ngựa ấy vẫn chạy đến với ông. Lúc đó, con ngựa sẽ được chủ thưởng cho một mớ cỏ non. Sau khi đã tập thành thục, Nguyễn Nhạc dắt con ngựa cái tơ của mình vào núi Hiển Hách. Câu “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” của cổ nhân quả không sai. Bầy ngựa hoang tỏ ra rất háo hức khi thấy con ngựa cái tơ của Nguyễn Nhạc xuất hiện. Đúng lúc quan hệ giữa bầy ngựa hoang với con ngựa của Nguyễn Nhạc đạt tới mức mật thiết nhất thì Nguyễn Nhạc bắt đầu phát tín hiệu. Con ngựa cái tơ vội chạy tới. Bầy ngựa hoang cũng chạy theo. Dần dần thành quen, Nguyễn Nhạc đã có thể gọi bầy ngựa hoang đến với mình một cách nhanh chóng và tự nhiên. Khi ấy, Nguyễn Nhạc mới mời các vị tù trưởng tới và nói: - Tôi là người nhà trời, cho nên, tôi có thể gọi bầy ngựa trời ấy tới với mình. Không tin, các ông hãy đến mà xem, có điều, tất cả các ông phải núp thật kín, làm sao để các ông có thể nhìn thấy ngựa mà ngựa không nhìn thấy các ông. Các vị tù trưởng đồng ý và họ đã được chứng kiến cảnh Nguyễn Nhạc gọi bầy ngựa trời. Từ đó, ai cũng tin rằng ba anh em Tây Sơn quả đúng là người nhà trời. Nhưng, họ là người được trời sai xuống hay bị trời đày xuống? Một mối nghi hoặc khác lại nổi lên, Nguyễn Nhạc biết và lại khôn khéo nghĩ cách phá tan sự nghi hoặc ấy. Nhận mệnh trời trên đỉnh Trung Sơn: Ở Phú Lạc có khá nhiều núi non, nhưng nổi danh hơn cả vẫn là Trung Sơn. Núi này còn có nhiều tên gọi khác như Hòn Sung, Hòn Sưng, Độc Nhũ Sơn, Độc Xỉ Sơn. Tuy chỉ cao khoảng hơn 400 mét nhưng Trung Sơn vẫn được coi là một trong những ngọn núi thiêng. Sự tích chàng Lía kể rằng, khi mẹ chàng Lía qua đời, chàng Lía đội quan tài trên đầu, một tay thì giữ, một tay cầm cái mâm vụt mạnh. Mâm bay, chàng Lía nhanh chân nhảy lên và cứ thế bay mãi, bay mãi đến đỉnh Trung Sơn thì dừng lại. Chàng Lía đã mai táng mẹ ở đó. Hiện nay trên đỉnh Trung Sơn còn có một tảng đá bằng phẳng, hình chữ nhật, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng lên nhau. Người địa phương nói đó là mộ của mẹ chàng Lía. Thời bấy giờ, Trung Sơn có nhiều cọp nên rất ít người lui tới. Một hôm, Nguyễn Nhạc tổ chức trong nhà mình một bữa tiệc linh đình. Trong số khách mời có khá nhiều vị tù trưởng, những người vừa cả tin nhưng cũng rất đa nghi. Đêm khuya, khi tiệc vừa tàn thì bỗng trên đỉnh Trung Sơn lửa sáng rực trời, chiêng trống nổi lên rộn rã. Nguyễn Nhạc cùng nhiều vị tù trưởng rủ nhau cầm đuốc lên xem chuyện gì đã xảy ra. Khi gần đến nơi, họ thấy ở chỗ mộ mẹ chàng Lía có nhiều người ăn mặc kì dị, nắm tay nhau múa hát theo nhịp chiêng chung quanh một đống lửa lớn. Đang lúc kinh ngạc và lo sợ thì bỗng có một người cao lớn, ăn mặc kì dị nhất bước ra và dõng dạc nói: - Truyền cho Nguyễn Nhạc tới đây! Nguyễn Nhạc run lẩy bẩy, ngoan ngoãn bò tới. Người cao lớn liền mở một cái hòm thật đẹp, lấy ra một tờ giấy, trịnh trọng đọc rồi nói rằng: - Ta vâng mệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, truyền cho ngươi kể từ đây được làm vua để trị vì thiên hạ. Được chứng kiến cảnh này, các vị tù trưởng đều rất tin rằng: Nguyễn Nhạc chính là người được trời sai xuống để làm vua thiên hạ chứ không phải bị trời đày xuống.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 03:09 PM
Bài viết: #3
1. Giai đoạn chuẩn bị (trước năm 1771)
Trời ban cho ấn kiếm, bút nghiên: Sau đêm kính nhận mệnh trời trên đỉnh Trung Sơn, một hôm, trời bỗng nổi sấm chớp đùng đùng rồi tuôn mưa xối xả. Nguyễn Nhạc đang vui vẻ đàm đạo với khách tại nhà thì thấy một người hớt hải đội mưa chạy đến và thưa: - Vừa rồi, sét đánh vỡ tung một tảng đá trên Hòn Giải, tôi tình cờ đi qua và thấy trong đá vụn có cái này. Nguyễn Nhạc chỉ mới liếc qua đã mỉm cười và nói: - Đó là ấn thiêng trời ban cho ta, ta biết rồi, đưa đây cho ta! Mọi người chưa hết ngạc nhiên thì lại thấy một người khác cũng hớt hải đội mưa chạy đến nhà Nguyễn Nhạc và thưa rằng: - Lúc nãy, tôi đi qua Gò Sặt, thấy sét đánh vỡ tung một tảng đá và trên đống đá vụn ấy có thanh kiếm lạ này. Nguyễn Nhạc cũng chỉ liếc qua một cái đã quả quyết: - Đó là kiếm báu trời ban cho ta, ta biết rồi, đưa đây cho ta! Từ đây, Nguyễn Nhạc có thêm ấn thiêng và kiếm báu. Tin ấy nhanh chóng loan đi khắp nơi. Thiên hạ cho rằng chuyện đất nổi sóng sẽ chẳng còn bao lâu nữa. Kể từ đó, Hòn Giải có tên là Ấn Sơn và Gò Sặt có tên là Kiếm Sơn. Bấy giờ, lòng người ở Tây Sơn đều hướng về Nguyễn Nhạc, người ta tin là rất định sẽ có ngày Nguyễn Nhạc chính thức lên ngôi. Có nhân kiệt ấy cũng bởi có địa linh, mỗi ngọn núi của Tây Sơn từ đây lại có thêm những tên gọi mới, hùng tráng và thiêng liêng kì lạ: - Núi Ngang (tên chữ là Hoành Sơn) vốn dĩ chỉ là một dãy núi bình thường, nhưng từ đây được mô tả với dáng vẻ khác thường: “xa trông, Hoành Sơn như bức bình phong của trời ban tặng”. - Hai ngọn núi nhỏ, một ở bên phải và một ở bên trái Hoành Sơn, từ đây được người đời gọi là Nghiên Sơn và Bút Sơn. Trên đỉnh Nghiên Sơn có vũng nước không bao giờ cạn, đời truyền tụng rằng đó chính là nguồn mực vô tận, đủ để chép tất cả những sự tích phi thường của Tây Sơn. Bút Sơn xa trông như một ngọn bút lớn đang chĩa thẳng lên trời. Chuyện “kinh thiên động địa” của Tây Sơn phải chép giữa trời xanh rộng lớn cho muôn đời thấu tỏ. - Cũng ở dưới chân núi Ngang có hai núi nhỏ nữa. Một có tên là Hòn Giải, tức Ấn Sơn, thi thoảng cũng có người gọi là Cổ Sơn. Sở dĩ gọi là Cổ Sơn vì xa trông, Hòn Giải rất giống hình cái trống (âm Hán Việt đọc là Cổ). Núi nhỏ thứ hai vốn có tên là Hòn Một, bỗng được mang tên mới là Chung Sơn. Sở dĩ gọi là Chung Sơn vì xa trông, ngọn núi này có hình dáng tựa như cái chuông (âm Hán Việt đọc là Chung). - … Nhưng, nếu Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế thì liệu ngôi vị hoàng đế của Nguyễn Nhạc sẽ tồn tại trong bao lâu? Nếu Nguyễn Nhạc ở ngôi lâu, lại truyền nối được nhiều đời mà không theo Nguyễn Nhạc, tức là trái mệnh trời, thế nào cũng sẽ bị nghiêm trị. Nếu Nguyễn Nhạc chỉ ở ngôi hoàng đế trong một thời gian ngắn thì theo Nguyễn Nhạc, sau thế nào cũng sẽ bị kẻ khác trả thù. Nguyễn Nhạc biết rất rõ điều này. Ông lại tìm cách trấn an và đó chính là cơ sở nảy sinh của một câu chuyện li kì khác. Táng hài cốt song thân vào long mạch dưới chân Hoành Sơn: Chuyện kể rằng, vào một ngày nọ, có một thầy địa lí lừng danh từ Trung Quốc đến Tây Sơn. Lần theo mạch đất, ông đã dừng lại và đứng trầm ngâm dưới chân núi Hoành Sơn. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông ta trồng hai bụi trúc ở hai vị trí khác nhau trên khu đất đầy sỏi. Nguyễn Nhạc đã bí mật theo dõi và biết chắc đó là phép thử huyệt khí của thầy địa lí. Nguyễn Nhạc liền canh chừng từng ngày một. Thế rồi một trong hai khóm trúc khô héo dần và chết, còn khóm kia thì vẫn xanh tươi lạ thường. Nguyễn Nhạc đoán là long huyệt nằm ở đấy, bèn đào một khóm trúc đã chết khô ở nơi khác đem đến, nhổ khóm trúc tươi tốt đi mà trồng thay vào. Việc vừa xong thì cũng đúng lúc thầy địa lí quay trở lại. Thấy cả hai khóm trúc đều khô héo, ông ta liền bỏ đi luôn, không trở lại Tây Sơn nữa. Thầy địa lí đi rồi, Nguyễn Nhạc lập tức đem hài cốt của song thân cải táng vào long huyệt. Việc này khiến cho dân Tây Sơn đương thời rất vui. Họ tin rằng một người được trời che đất chở như Nguyễn Nhạc thì phúc đức sẽ bền lâu vô cùng. Họ tìm đến với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ngày một đông đảo. Khu mộ cải táng của song thân Nguyễn Nhạc về sau bị triều Nguyễn khai quật trả thù. Đó chính là di tích Hai hố Nguyệt hiện còn ở chân núi Hoành Sơn. Cũng chuyện cải táng hài cốt của song thân vào long huyệt do thầy địa lí người Trung Quốc tìm ra, dân Tây Sơn còn có một truyền thuyết khác. Chuyện kể rằng, sau khi biết chắc mình đã tìm được long huyệt dưới chân Hoành Sơn, thầy địa lí liền trở về cố hương, lấy hài cốt của tổ tiên mình, đựng vào một cái tráp thật đẹp, định đem sang để cải táng vào đấy. Khi thầy địa lí gần đến long huyệt thì thấy một con cọp lao ra. Hốt hoảng, ông ta quăng cả tráp mà chạy. Khi hoàn hồn và quay trở lại, thầy địa lí thấy cái tráp hãy còn nguyên, nằm lăn lóc bên đường. Ông ta vui mừng đem đến long huyệt mai táng cẩn thận. Xong, ông ta về mà không hề biết rằng con cọp kia chỉ là cái lốt Nguyễn Nhạc đội vào để hù và cái tráp kia ngỡ như còn nguyên vẹn nhưng kì thực đã bị Nguyễn Nhạc đánh tráo. Đó không còn là hài cốt tổ tiên thầy địa lí mà là hài cốt song thân Nguyễn Nhạc. Vài truyền thuyết dân gian kể trên rõ ràng mang đậm màu sắc mê tín. Đó là hiện tượng tự nhiên của thế kỉ XVIII và của quá khứ dân tộc ta nói chung. Có truyền thuyết nảy sinh do lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với ba anh em Tây Sơn, cũng có truyền thuyết có thể do chính ba anh em Tây Sơn dựng nên. Dù ra đời từ nguồn gốc nào, các truyền thuyết này cũng mang lại sự nhất trí ngày càng cao độ trong đồng bào các dân tộc sinh sống ở vùng đất Tây Sơn, tạo ra được một ngọn cờ chính trị, thể hiện ý chí quật khởi chung của nhân dân bị áp bức đương thời.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 03:13 PM
Bài viết: #4
1. Giai đoạn chuẩn bị (trước năm 1771)
Chuẩn bị về lực lượng và tổ chức Sinh sống ở đất Tây Sơn lúc bấy giờ chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, đông đảo hơn cả là người Bana và người Xêđăng. Từ thế kỉ XVII, Tây Sơn còn có thêm một số làng xã của người Hoa, người Việt. Lực lượng ban đầu của phong trào được tập hợp và huy động từ chính các tầng lớp nhân dân ở Tây Sơn. Truyền thuyết dân gian vùng Tây Sơn cho hay: Nguyễn Nhạc có một người vợ lẽ là con gái tù trưởng người Bana. Người vợ lẽ này thường được gọi là Cô Hầu, gia đình sống ở Cổ Em. Cổ Em vừa là tên một thung lũng rất rộng, đất đai phì nhiêu, lại cũng vừa là tên của một ngọn núi. Núi ấy cứ đến chiều tà có hàng ngàn con chim bay về nghỉ nên còn có một tên chữ là núi Mộ Điểu. Tuy kết hôn với Nguyễn Nhạc nhưng cô Hầu vẫn ở lại Cổ Em, ngày ngày lo tổ chức sản xuất để tích trữ lương thực cho Nguyễn Nhạc. Vì thế, thung lũng Cổ Em cũng có tên là đồng Cô Hầu, núi Mộ Điểu về sau được coi là một trong những nơi phát tích của Nguyễn Nhạc và có thêm một tên mới nữa là núi Hoàng Đế. Từ mối quan hệ hôn nhân này, Nguyễn Nhạc đã lôi kéo được rất nhiều đồng bào các dân tộc ít người tham gia vào lực lượng nghĩa sĩ của mình. Tại Tây Sơn có hai ngọn núi mang tên gọi khá đặc biệt, đó là núi Ông Bình và núi Ông Nhạc. Núi Ông Bình là nơi Nguyễn Văn Bình (tức Nguyễn Huệ) tập hợp và huấn luyện binh sĩ trước lúc khởi nghĩa. Núi Ông Nhạc là nơi Nguyễn Nhạc tập hợp và huấn luyện binh sĩ trước khi làm lễ tế cờ xuất quân. Truyền thuyết dân gian nói rằng, trong ba anh em Tây Sơn, Nguyễn Lữ được phân công lo sản xuất và tích trữ lương thực, không trực tiếp tham gia huấn luyện binh sĩ như hai anh của mình. Kho tàng Tây Sơn do Nguyễn Lữ phụ trách để ở núi Lãnh Lương. Trong số rất đông đảo những người ủng hộ và tham gia phong trào Tây Sơn ở giai đoạn chuẩn bị này, có hai nhân vật được nhắc tới nhiều nhất, đó là Huyền Khê và Nguyễn Thung. Hai ông đều là những người rất giàu có và đã đem tất cả của cải nhà mình dâng nạp cho nghĩa quân. Về sau, khi Nguyễn Nhạc tự phong làm Đệ Nhất Trại Chủ thì Nguyễn Thung được phong làm Đệ Nhị Trại Chủ, chỉ huy quân dân ở hai huyện Bồng Sơn và Phù Ly, còn Huyền Khê được phong là Đệ Tam Trại Chủ, trông coi về quân lương cho Tây Sơn. Càng về sau, chủ trương tập hợp và huy động sức mạnh của toàn dân càng được anh em Tây Sơn mở rộng. Ở huyện Tuy Viễn có ông bầu gánh hát tên là Nhưng Huy và một kép hát tên là Tứ Linh đã đi theo nghĩa quân. Ở Thạch Thành có nữ chúa người Chăm là Thị Hỏa cũng đã hăng hái hưởng ứng, lập đồn trại, luyện binh mã, sẵn sàng ứng viện. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ là những người có công chuẩn bị một cách công phu và chu tất cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cũng là những người đứng đầu của bộ chỉ huy khởi nghĩa. Chuẩn bị về khẩu hiệu đấu tranh Từ nửa cuối thế kỉ XVII trở đi, ách thống trị của tập đoàn họ Nguyễn ngày một nặng nề, mâu thuẫn xã hội ở xứ Đàng Trong trở nên sâu sắc. Cũng từ nửa cuối thế kỉ XVII trở đi, một số phong trào đấu tranh của nhân dân Đàng Trong bùng nổ, trong đó, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa do chàng Lía phát động và cuộc vùng dậy do Lý Văn Quang chỉ huy. Vấn đề quan trọng hàng đầu của xã hội Đàng Trong lúc ấy là phải cứu dân nghèo. Xuất phát từ nhận thức đó, khẩu hiệu khởi nghĩa đầu tiên mà ba anh em Tây Sơn đề ra là “lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”. Các giáo sĩ phương Tây có mặt ở nước ta lúc bấy giờ đều xác nhận rằng Tây Sơn đã “lấy của cải bọn quan lại và bọn nhà giàu phân phát cho dân nghèo. Những làng mạc bị thuế má hà khắc đè nặng đã nhiệt liệt tuyên thệ hưởng ứng khởi nghĩa” , hoặc “họ lấy những của quý đem chia cho dân nghèo, chỉ giữ gạo và thực phẩm cho họ mà thôi. Người ta gọi họ là bọn giặc nhân đức đối với người nghèo khổ”. Trong Hịch xuất quân đánh Trịnh, các lãnh tụ Tây Sơn gọi đó là “tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng dân sa chốn lầm than”. Đây là khẩu hiệu có ý nghĩa tập hợp lực lượng ngày càng đông đảo cho Tây Sơn. Có mặt ở Tây Sơn trong thời kì trứng nước của cuộc khởi nghĩa này, thầy giáo Hiến có một ảnh hưởng không nhỏ. Những hiểu biết của thầy giáo Hiến về nội tình rối ren của phủ chúa Nguyễn trở thành cơ sở quan trọng để Tây Sơn nêu khẩu hiệu hành động thứ hai, đó là “ủng hộ Hoàng Tôn Dương, đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan”. Đây là khẩu hiệu có ý nghĩa phân hóa kẻ thù. Bởi khẩu hiệu này, cuộc đối đầu giữa Tây Sơn và tập đoàn họ Nguyễn cũng có lúc được dân gian diễn đạt như là cuộc đối đầu giữa Quốc Phó Trương Phúc Loan với Hoàng Tôn Dương: Binh triều binh Quốc Phó Binh ó binh Hoàng Tôn. Một khi nội bộ kẻ thù bị phân hóa và chia rẽ sâu sắc, khả năng đề kháng của chúng yếu đi rất nhanh, và ngược lại, cơ hội thành công của Tây Sơn sẽ đến ngày một nhiều.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 03:57 PM
Bài viết: #5
Phong trào Tây Sơn (1771 - 1801)
2. GIAI ĐOẠN KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN ĐẤU QUYẾT LIỆT Ở XỨ ĐÀNG TRONG (1771 - 1784) Toàn bộ quá trình chuẩn bị công phu của Tây Sơn có lẽ chỉ diễn ra trong khoảng vài ba năm. Từ 1771, các lãnh tụ Tây Sơn quyết định khởi nghĩa, mở đầu cuộc trường chinh vĩ đại của mình. Từ đầu năm 1771 đến giữa năm 1784 là giai đoạn khá đặc biệt của Tây Sơn. Nhìn về tính chất, đây là giai đoạn Tây Sơn gần như chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất là đấu tranh chống ách thống trị của tập đoàn họ Nguyễn, tức là mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một cuộc chiến tranh nông dân. Nhìn về phạm vi hoạt động, đây là giai đoạn Tây Sơn chiến đấu quyết liệt ở khu vực từ Quảng Nam trở vào, tức là hoàn toàn thuộc không gian riêng của Đàng Trong. Giai đoạn này có thể chia làm ba chặng nối tiếp nhau như sau: Chặng thứ nhất: Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ và liên tiếp giành được nhiều thắng lợi vang dội, giải phóng một vùng rộng lớn, tương ứng với các tỉnh ngày nay như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum và Phú Yên (từ đầu năm 1773 đến cuối năm 1774) Trong khoảng hai năm đầu, nghĩa quân Tây Sơn hoạt động chủ yếu ở vùng rừng núi Tây Sơn, biến vùng đất rộng lớn tương ứng với huyện Tây Sơn của Bình Định và An Khê của Gia Lai ngày nay thành căn cứ vững chắc của mình. Chính quyền của chúa Nguyễn biết rất rõ thực tế này nhưng vẫn hoàn toàn bất lực, không đề ra được một biện pháp chống trả nào đáng kể. Năm 1773, khi xét thấy quân số ngày một đông, tiềm lực ngày càng mạnh, anh em Tây Sơn đã nhanh chóng mở rộng phạm vi tấn công. Lần lượt các huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn ,… lọt vào tay Tây Sơn. Cuối năm 1773, thành Quy Nhơn bị Tây Sơn đánh gục. Sau khi chiếm được thành Quy Nhơn, Tây Sơn cho quân đánh mạnh ra vùng Quảng Ngãi và Quảng Nam ngày nay. Tại đây, khá nhiều thương nhân người Hoa đã hăng hái tham gia nghĩa quân. Sử cũ có chép tên hai nhân vật người Hoa đặc biệt, một là Lý Tài (thủ lĩnh của đội quân Hòa Nghĩa) và một nữa là Tập Đình (thủ lĩnh của đội quân Trung Nghĩa). Hai đội quân này đã chiến đấu dưới ngọn cờ Tây Sơn trong khoảng hơn 3 năm. Tin bại trận liên tiếp đưa về. Chúa Nguyễn hốt hoảng sai tướng đem quân đi chống trả nhưng không sao cản nổi bước tiến của Tây Sơn. Đến cuối năm 1774, Tây Sơn đã chiếm được một vùng đất rộng lớn và liên hoàn, tương ứng với một loạt các tỉnh ngày nay như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai và Phú Yên. Thậm chí, một số đạo quân của Tây Sơn còn đánh vào đến tận vùng Nha Trang ngày nay. Chặng thứ hai: Tạm hòa hoãn với quân Trịnh, kịp thời phá thế bị tấn công cùng lúc ở hai mặt Nam – Bắc (từ cuối năm 1774 đến đầu năm 1776) Diễn biến của tình hình Đàng Trong được chúa Trịnh lúc bấy giờ là Trịnh Sâm rất quan tâm. Đang lúc Trịnh Sâm có ý định can thiệp vào Đàng Trong thì Trấn Thủ ở Nghệ An là Bùi Thế Đạt sai người chạy ngựa trạm về triều đình, đệ trình văn thư nói rằng tình trạng ở Thuận Hóa (chỉ Đàng Trong) rất rối ren, có thể nhân đó mà đánh lấy được. Bọn Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nghiễm cũng tán đồng ý kiến này. Trịnh Sâm bèn quyết chí sai quân đi đánh. Một bộ chỉ huy hành quân được gấp rút thành lập, cụ thể như sau: - Hoàng Ngũ Phúc giữ chức Tổng chỉ huy. - Phan Lê Phiên và Uông Sĩ Điển giữ chức Tùy Quân Tham Biện. - Đoàn Nguyễn Thục giữ chức Đốc Thị. - Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể cùng với hai nhân vật thân tín khác là Nguyễn Lệ và Hoàng Đình Bảo cũng được chỉ định tham gia Bộ chỉ huy. Lực lượng quân sĩ của chúa Trịnh được huy động vào cuộc Nam chinh này là ba vạn. Tháng 10 năm 1774, đạo quân này bắt đầu vượt sông Gianh, mở đầu cuộc tấn công ồ ạt và bất ngờ vào Đàng Trong. Phủ chúa Nguyễn bị kẹp chặt bởi hai thế lực đối nghịch, phía bắc là quân Trịnh và phía nam là quân Tây Sơn. Bấy giờ, Hoàng Ngũ Phúc tuyên bố rằng: “Việc hành quân này bất quá chỉ để trừ khử một Trương Phúc Loan và phe đảng của hắn, sau nữa là diệt bọn giặc kiệt hiệt (ý chỉ Tây Sơn), chứ thực tình không có ý gì khác”. Đứng trước tình thế thúc bách như vậy, cách duy nhất là phải thí bỏ Trương Phúc Loan, kẻ mà cả Tây Sơn lẫn quân Trịnh đều lên án, trong phủ chúa cũng lắm người không ưa. Tướng của chúa Nguyễn là Nguyễn Cửu Pháp liền lập mưu bắt sống Trương Phúc Loan giao cho Hoàng Ngũ Phúc. Mặc dù vậy, Hoàng Ngũ Phúc vẫn lấy cớ là chưa diệt được Tây Sơn nên vẫn cho quân tiến vào. Không còn con đường nào khác, chúa Nguyễn cùng với toàn bộ tôn thất và bá quan văn võ phải bỏ Phú Xuân, tìm đường chạy vào Gia Định. Đến Gia Định, chúa Nguyễn dần dần củng cố lực lượng của mình. Điều đó khiến cho tình thế xoay chuyển có phần bất lợi cho Tây Sơn. Từ đây, Tây Sơn bị kẹp chặt ở giữa hai đối phương hùng mạnh. Họ Trịnh và họ Nguyễn tuy là hai thế lực không đội trời chung nhưng trong tình huống đặc biệt này, rất có thể họ sẽ liên minh lại với nhau. Xuất phát từ nhận định ấy, Tây Sơn đã có một chủ trương rất đúng đắn và kịp thời là tạm thời hòa hoãn với quân Trịnh để chủ động phá thế bị tấn công cùng lúc từ hai mặt Nam – Bắc. Bấy giờ, quân sĩ của Hoàng Ngũ Phúc vừa mệt mỏi vì hành quân xa, lại vừa bị bệnh dịch hoành hành nên đã vui vẻ nhận lời cầu hòa. Hoàng Ngũ Phúc cũng hi vọng rằng, cả Tây Sơn và chúa Nguyễn sẽ mệt mỏi và kiệt sức trong cuộc tranh hùng. Khi đó, hắn ra tay vẫn chưa muộn. Chặng thứ ba: Năm lần tấn công vào Gia Định, lật nhào cơ đồ thống trị của họ Nguyễn ở Đàng Trong (từ đầu năm 1776 đến giữa năm 1784) Sau khi được tạm yên ở mặt Bắc, Tây Sơn quyết tâm dốc sức tiêu diệt quân Nguyễn ở mặt Nam. Năm chiến dịch lớn đã được tổ chức: - Lần thứ nhất vào tháng 2 năm Bính Thân (1776) do Nguyễn Lữ chỉ huy. Nguyễn Lữ đã đánh bật quân đội chúa Nguyễn ra khỏi thành Gia Định và ráo riết cho quân truy đuổi Nguyễn Phúc Thuần. Chúa Nguyễn Phúc Thuần may được một giáo sĩ phương Tây là Diego de Jumilla giấu ở dưới giường ngủ mới thoát được. Tuy nhiên, Nguyễn Lữ cũng chỉ chiếm giữ thành Gia Định trong một thời gian rất ngắn rồi lại rút về Quy Nhơn. - Lần thứ hai là vào tháng 3 năm Đinh Dậu (1777). Lần này, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tấn công rất dữ dội. Nguyễn Phúc Dương (lúc này là Tân Chính Vương) và sau đó là Nguyễn Phúc Thuần (lúc này là Thái Thượng Vương) đều bị bắt và bị giết. Đến đây, cơ đồ họ Nguyễn gây dựng trên hai trăm năm kể như đã bị lật đổ hoàn toàn. Cầm đầu tàn quân của họ Nguyễn lúc này chỉ còn có Nguyễn Ánh nữa mà thôi. - Lần thứ ba là vào tháng 2 năm Mậu Tuất (1778). Lần này, quân Tây Sơn do hai tướng là Tổng đốc Chu và Hộ giá Phạm Ngạn đã đánh khá mạnh vào vùng tương ứng với Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay nhưng không giành được thắng lợi. Tây Sơn không những mất Gia Định mà còn mất luôn cả vùng Bình Thuận. - Lần thứ tư vào tháng 3 năm Nhâm Dần (1782). Lần này, quân Tây Sơn do cả Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chỉ huy, mục tiêu nhằm đánh gục tàn binh của Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh đại bại, phải phiêu bạt đó đây. Viên sĩ quan phương Tây giúp Nguyễn Ánh là Manuel (sử cũ phiên âm là Mạn Hòe) bị giết chết. - Lần thứ năm là vào tháng 2 năm Quý Mão (1783). Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chỉ huy. Mục tiêu của Tây Sơn lần này vẫn là đập tan lực lượng của Nguyễn Ánh vừa mới được phục hồi. Với cuộc tấn công này, Nguyễn Ánh bị đánh cho tơi bời, nhưng rốt cuộc vẫn trốn thoát được.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 03:59 PM
Bài viết: #6
Phong trào Tây Sơn (1771 - 1801)
3. GIAI ĐOẠN KẾT HỢP ĐÁNH CẢ THÙ TRONG LẪN GIẶC NGOÀI (1784 - 1789) Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng lại chính là giai đoạn rực rỡ nhất của phong trào Tây Sơn. Xét về quy mô, đây là giai đoạn Tây Sơn hoạt động trên phạm vi cả nước. Xét về tính chất, đến đây, Tây Sơn đã đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ trọng đại khác nhau. Một là đẩy mạnh và mở rộng cuộc tấn công vào cơ đồ của giai cấp phong kiến thống trị ở Đàng Ngoài. Hai là dũng cảm đảm nhận sứ mệnh bảo vệ độc lập dân tộc, lập nên những võ công chống xâm lăng vô cùng hiển hách, góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống ngoan cường, bất khuất của cả dân tộc. Tính theo tuần tự thời gian, giai đoạn này có các sự kiện nổi bật như sau: - Cuối năm Giáp Thìn (1784), đầu năm 1785, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã quét sạch 5 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh rước về trong trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm – Xoài Mút. Từ đây, nói theo cách nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì “quân đội nông dân đã chuyển hóa một cách kì diệu và tự nhiên thành quân đội dân tộc”. - Giữa năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tấn công vào quân Trịnh ở Phú Xuân. Toàn bộ xứ Đàng Trong đã hoàn toàn thuộc về Tây Sơn. - Ngay sau khi đánh bại đạo quân đông đảo của chúa Trịnh ở Phú Xuân, lực lượng Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã táo bạo tấn công ra Đàng Ngoài, lật nhào cơ đồ thống trị của họ Trịnh. Đây là cuộc tấn công có hai ý nghĩa hết sức lớn lao. Một là xóa bỏ ranh giới sông Gianh chia cắt đất nước từ rất lâu dài trước đó, mở ra một trong những cơ sở quan trọng cho việc thống nhất quốc gia sau này. Hai là chấm dứt ách thống trị thối nát của họ Trịnh, tức là tiêu diệt trở lực lớn nhất của xã hội Đàng Ngoài. - Cuối năm Mậu Thân (1788), trong bước đường cùng, Lê Chiêu Thống đã đi cầu cứu nhà Thanh. Nhân cơ hội đó, 29 vạn quân Thanh đã tràn sang xâm lược nước ta. Quân đội Tây Sơn dưới sự chỉ huy thiên tài của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã đánh trận quyết chiến chiến lược tại Ngọc Hồi – Đống Đa vào đúng dịp Tết Kỉ Dậu (1789). Với chiến công oanh liệt này, Tây Sơn đã khiến cho Lê Chiêu Thống và bọn tay chân mù quáng phải bỏ nước sống lưu vong để rồi cuối cùng chết một cách bi thảm trên đất Trung Quốc. Chỉ trong vòng 5 năm mà hai lần đại thắng quân xâm lược đến từ hai hướng khác nhau. Đó là hiện tượng chưa từng có ở bất cứ một phong trào nông dân nào, cũng là hiện tượng chưa từng có của lịch sử dân tộc. Vinh quang ngàn đời bất diệt của Tây Sơn trước hết và chủ yếu là kết tinh ở đây.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
30-10-2008, 04:06 PM
Bài viết: #7
Phong trào Tây Sơn (1771 - 1801)
4. GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC (1789 - 1801) Cùng với quá trình chiến đấu không mệt mỏi là quá trình không ngừng xây dựng và củng cố chính quyền. Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn có một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt, đó là giai đoạn Tây Sơn đã quản lãnh được toàn cõi nước ta và tồn tại với tư cách của những hệ thống chính quyền khác nhau, bắt đầu từ năm 1789 và kết thúc vào cuối năm 1801. Các hệ thống chính quyền này tuy đều là thành quả chung của phong trào Tây Sơn nhưng vì nhiều lí do khác nhau, mỗi hệ thống chính quyền có một xu hướng tồn tại riêng khá rõ rệt. Đại để, Tây Sơn có ba hệ thống chính quyền cụ thể như sau: - Một là hệ thống chính quyền do Nguyễn Lữ đứng đầu, cai quản miền đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay). Nguyễn Lữ mất năm 1787 nhưng chính quyền của ông thì trên danh nghĩa vẫn tiếp tục tồn tại thêm một thời gian nữa. Đây là chính quyền yếu kém nhất của Tây Sơn. - Hai là hệ thống chính quyền của Nguyễn Nhạc, quản lí miền đất từ Bình Thuận ra đến Bến Ván của Quảng Nam ngày nay. Nguyễn Nhạc mất vào cuối năm 1793 nhưng con ông là Nguyễn Bảo (tức Nguyễn Quang Thiệu) vẫn tiếp tục duy trì chính quyền thêm một thời gian nữa. Trong giai đoạn đầu của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Nhạc là người có công lớn nhất, nhưng Nguyễn Nhạc cũng là người bị phong kiến hóa sớm nhất. - Ba là hệ thống chính quyền của Nguyễn Huệ quản lãnh miền đất từ Bến Ván của Quảng Nam ngày nay trở ra cho đến hết Đàng Ngoài. Đây là hệ thống chính quyền mạnh nhất, có nhiều cải cách táo bạo, tích cực và tiến bộ nhất. Nguyễn Huệ qua đời năm 1792 nhưng con ông là Quang Toản vẫn tiếp tục duy trì chính quyền cho đến cuối năm 1801. Nhược điểm lớn nhất của các lãnh tụ Tây Sơn khi nắm chính quyền là đã để xảy ra tình trạng mất đoàn kết rất nghiêm trọng. Nguyễn Ánh đã triệt để lợi dụng điều này để tổ chức phản công và cuối cùng, Nguyễn Ánh đã giành được thắng lợi. Phong trào Tây Sơn đến đây chấm dứt.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
03-11-2008, 07:27 AM
Bài viết: #8
Tây Sơn thất hổ tướng
Nhà Tây Sơn trước khi khởi nghĩa đã hội tụ được nhiều anh hùng hào kiệt tỉnh hạt và các tỉnh lân cận. Khi khởi binh, các tướng tài tập hợp thêm nhiều. Trong các vị anh tướng, có bẩy vị tướng người địa phương đã trọn đời theo nhà Tây Sơn, được nhân dân Bình Định tôn gọi là Thất Hổ Tướng. Bảy vị tướng tài đó là: - Võ Văn Dũng - Trần Quang Diệu - Võ Đình Tú - Nguyễn Văn Tuyết - Lý Văn Bưu - Nguyễn Văn Lộc - Lê Văn Hưng
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
03-11-2008, 07:36 AM
Bài viết: #9
Cám ơn thầy cô về những bài viết bổ ích.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Chủ đề đã đóng 




Người đang duyệt chủ đề này: