Chủ đề đã đóng 
 
Đánh giá chủ đề:
  • 1 Phiếu - 5 Trung bình
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Hoàng đế Quang Trung (1753 - 1792)
15-12-2008, 02:56 AM
Bài viết: #21
Cũng ngay trong buổi sáng mồng năm Tết Kỉ Dậu, Quang Trung tổ chức đợt tấn công thứ hai vào Ngọc Hồi. Đợt này cũng được mở đầu bằng cuộc xông trận của voi chiến, nhưng khác với đợt thứ nhất, ở đợt thứ hai này, voi chiến đóng vai trò mở đường cho quân cảm tử tràn lên. Theo mô tả trong sách Hoàng Lê nhất thống chí thì mỗi tốp có ba mươi người. Mười người thì giắt đoản đao bên hông, cùng nhau khiêng một tấm bảng lớn, phía ngoài có cuốn rơm tẩm bùn để chặn mũi tên của giặc. Hai mươi người còn lại thì núp phía sau tấm ván che nói trên rồi nhất loạt cùng tiến. Số quân cảm tử của Quang Trung tham gia tấn công Ngọc Hồi đợt thứ hai này gồm chừng 600 người (hai mươi tốp). Đáp lại, quân Thanh liên tục nã đại bác và phun hỏa mù ra, khiến cho “khói lửa mù trời, gần nhau trong gang tấc mà cũng chẳng thấy gì cả”. Tiến ngay sau voi chiến và quân cảm tử, đại binh của Tây Sơn cũng rầm rộ tràn vào. Những bó rơm lớn được dùng làm tấm đỡ, kẻ trước người sau đều liều mình mà đánh. Lũy Ngọc Hồi bị phá và Quang Trung dẫn bại binh đánh thẳng vào dinh trại giặc. Đồn Ngọc Hồi tan tành. Giặc chết chồng chất lên nhau. Tổng chỉ huy quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi là Hứa Thế Hanh cùng với Tổng binh Thượng Duy Thăng bị giết tại trận. Quân sĩ Mãn Thanh sống sót ở đồn Ngọc Hồi chạy thục mạng về Thăng Long, nhưng vừa đến Yên Duyên thì lập tức bị một đạo quân Tây Sơn đã được Quang Trung bố trí mai phục sẵn, đánh cho một trận tơi bời, lại bị giết hại không biết bao nhiêu mà kể. Số sống sót lại liều chết tìm đường chạy nhanh về Thăng Long. Đến Đầm Mực thì gặp quân mai phục do Đô đốc Bảo bố trí sẵn. Một trận đánh đã diễn ra ác liệt tại đây. Toàn bộ quân giặc chạy đến vùng Đầm Mực đều bị giết hoặc bị bắt sống. Như vậy là chỉ với một buổi sáng, quân Tây Sơn đã đập tan đồn Ngọc Hồi, mở tung cánh cửa sắt che chở mặt nam kinh thành Thăng Long để rồi nhanh chóng tiến thẳng vào sào huyệt của giặc. Đây là trận phối hợp tuyệt vời giữa hai binh chủng chính là bộ binh và tượng binh, đây cũng là trận kết hợp chặt chẽ giữa tấn công trực diện với bí mật bao vây và tiêu diệt. Đè bẹp được lực lượng quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi cũng có nghĩa là Tây Sơn bắt đầu nắm được phần thắng ở trong tay. Đồng thời với cuộc tấn công vào Ngọc Hồi, đạo quân Tây Sơn do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy cũng đánh mạnh vào Đống Đa. Cầm đầu quân Thanh ở Đống Đa là Sầm Nghi Đống. So với những tướng lĩnh cao cấp dưới trướng của Tôn Sĩ Nghị thì Sầm Nghi Đống kém cỏi hơn cả. Quân do tướng Sầm Nghi Đống quản lĩnh cũng chủ yếu là quân ô hợp. Do đóng ở một vị trí thuận lợi, lại ở ngay cửa dẫn vào Thăng Long nên Sầm Nghi Đống có không ít lợi thế. Tổ chức tấn công vào Đống Đa không đơn giản một chút nào cả. Tương tự như ở Ngọc Hồi, quân Tây Sơn đánh vào Đống Đa do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy gồm chủ yếu bộ binh và tượng binh. Quân số Tây Sơn tuy không đông nhưng rất tinh nhuệ và linh hoạt. Khoảng 3 giờ sáng ngày mồng 5 Tết Kỉ Dậu, cuộc tấn công vào Đống Đa bắt đầu. Chỉ trong chốc lát, hàng ngàn quân Thanh đã bị giết, Sầm Nghi Đống hốt hoảng chui vào đồn để cố thủ mà chờ viện binh. Đúng lúc đó, nhân dân các địa phương chung quanh đã lấy rơm rạ bện thành con cúi, châm lửa vào, cầm lên rồi vừa đi vừa múa. Khi ấy, sương mù còn dày đặc, xa trông, những con cúi đã châm lửa ấy chẳng khác gì rồng lửa, vì thế gọi là “hỏa long trận”. Tuyệt vọng vì biết không thể nào chống đỡ nổi, Sầm Nghi Đống đã thắt cổ tự tử. Hàng trăm thuộc hạ trung thành của Sầm Nghi Đống cũng tự sát theo chủ. Đống Đa bị hạ, đường Tây Sơn tiến thẳng vào đại bản dinh của Tôn Sĩ Nghị đã thênh thang. Bấy giờ, Tôn Sĩ Nghị liên tiếp nhận được tin bại trận từ khắp nơi truyền về, chưa kịp nghĩa cách ứng phó thì đã thấy bốn bề lấp loáng hỏa long trận và những đơn vị đầu tiên của quân Tây Sơn dũng mãnh xông vào. “Ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn kị binh của mình bỏ trốn trước, qua cầu phao, nhằm thẳng hướng bắc mà chạy thục mạng”. Đó là hình ảnh thảm hại của Tôn Sĩ Nghị sáng mồng 5 Tết Kỉ Dậu. Quân Mãn Thanh thấy chủ tướng chạy thì cũng tranh nhau tìm đường chạy theo. “Chúng tranh nhau qua cầu phao để sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống nước chết không biết bao nhiêu mà kể”. Sợ quân Tây Sơn cũng sẽ dùng cầu phao mà vượt sông truy đuổi, Tôn Sĩ Nghị đã hạ lệnh chặt đứt cầu phao. Hành động tàn ác đó đã khiến cho hàng vạn quân lính của Tôn Sĩ Nghị bị chết đuối, “nước sông Nhị vì thế mà tắc nghẽn, không chảy được”. Số quân Thanh còn kẹt lại ở bờ Nam thì đi cướp giật thuyền của dân mà sang bờ Bắc, nhưng quân đông mà thuyền ít, chúng tranh giành nhau, chém giết nhau, khiến thuyền chìm, người chết. Đúng lúc chúng đang hoảng sợ đến tột độ thì quân Tây Sơn ập đến. Tất cả đều bị giết hoặc bị bắt làm tù binh. Khi đã qua được sông Hồng, chúng cứ ngỡ là có thể yên tâm chạy một mạch về Trung Quốc. Không ngờ, chưa kịp hoàn hồn thì đã bị đạo quân Tây Sơn do Đô đốc Lộc chỉ huy xông tới đánh cho mấy trận kinh hoàng nữa. Rất may cho tàn quân của Tôn Sĩ Nghị là do gặp bão nên đạo quân do Đô đốc Lộc chỉ huy có phần đến chậm hơn so với kế hoạch đã định; vì thế, không kịp bố trí để có thể bịt kín mọi ngả tháo chạy của quân Thanh. Theo nhận định của một giáo sĩ phương Tây thì số quân Thanh chạy thoát và về được trung Quốc chỉ độ ba bốn chục tên mà thôi. Đạo thủy binh nhỏ của Mãn Thanh đóng ở Hải Dương cũng bị tiêu diệt gọn. Đáng được coi là may mắn hơn cả là đạo quân Mãn Thanh do Ô Đại Kinh cầm đầu. Hắn tiến rất chậm. Khi tới Sơn Tây, chưa kịp ổn định nơi đóng quân thì đã nghe tin Tôn Sĩ Nghị đại bại. Từ Sơn Tây, Ô Đại Kinh lập tức cho quân chạy về phương Bắc. Tuy vậy, đạo quân này cũng bị các đội dân binh ở Tuyên Quang đánh cho tơi bời, khiến đội ngũ bị rối loạn, thất lạc và không liên lạc được với nhau. Ý chí xâm lăng của nhà Mãn Thanh đối với nước ta trao gởi ở 29 vạn quân do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu đã bị đè bẹp hoàn toàn. Ngọc Hồi – Đống Đa đi vào lịch sử dân tộc với ý nghĩa là tên gọi hào hùng của võ công chống xâm lăng oanh liệt vào hàng bậc nhất. Sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, nhà Thanh buộc phải thừa nhận ngôi vị và chính quyền của Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
15-12-2008, 02:59 AM
Bài viết: #22
Sự nghiệp Hoàng đế Quang Trung (1753 - 1792)
11. TỪ 1789 ĐẾN 1792, TIẾN HÀNH NHỮNG CẢI CÁCH TÍCH CỰC VÀ TÁO BẠO Khi quân Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống đã bị quét sạch khỏi bờ cõi, cơ đồ mà Quang Trung Nguyễn Huệ tiếp nhận được chỉ là sự điêu tàn và đổ nát. Với cương vị Hoàng đế, Quang Trung đã tiến hành một loạt những cải cách tích cực và táo bạo nhằm nhanh chóng giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước. Trước hết, Quang Trung tìm cách thiết lập mối quan hệ bang giao hữu hảo với nhà Thanh. Việc này, Quang Trung đã chuẩn bị ngay từ khi mới đến Tam Điệp – Biện Sơn: “Lần này ta đích thân cầm quân, kế sách tiến đánh đều đã có sẵn, chẳng qua chỉ độ mươi ngày là đánh đuổi được quân Thanh. Nhưng, chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bại trận thì ắt lấy làm xấu hổ nên lo đánh báo thù. Thế thì việc binh đao sẽ chẳng bao giờ dứt. Ta thật không nỡ vì như thế là không may cho dân. Vậy, khi ấy chỉ có người khéo nói mới mong dập tắt được binh đao. Ta thấy việc này, ngoài Ngô Thì Nhậm ra, chẳng ai làm được”. Sau chiến thắng, Ngô Thì Nhậm và em rể ông là Phan Huy Ích được Quang Trung giao trách nhiệm chỉ huy những hoạt động nhằm thiết lập mối quan hệ bang giao với nhà Thanh. Chủ trương của Quang Trung là phải mềm mỏng nhưng cũng thật kiên quyết. Mềm mỏng là mềm mỏng trong sách lược, trong từng bước đi cụ thể; còn kiên quyết là kiên quyết trong mục tiêu bảo vệ đến cùng nền độc lập và chủ quyền của dân tộc. Đối với bọn phản loạn ngoan cố, Quang Trung thẳng tay trừng trị. Bấy giờ, lực lượng phản loạn đáng kể hơn cả vẫn là lực lượng do Lê Duy Chỉ (em ruột Lê Chiêu Thống) cầm đầu. Năm 1790, Lê Duy Chỉ đã tạo ra được một mối liên minh nguy hiểm gồm Lê Duy Chỉ ở Cao Bằng, quân Xiêm và quân Lào ở mặt tây, quân Nguyễn Ánh ở mặt nam. Năm 1791, quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy đã tràn sang Lào, đánh tan và truy đuổi quân Xiêm đến tận biên giới Xiêm La. Khi ấy, vùng đất do Quang Trung quản lí gồm từ Bến Ván (Quảng Nam) trở ra cho đến hết miền bắc. Lúc đầu, Quang Trung đóng đô tại Phú Xuân. Về sau, Quang Trung chọn đất định đô mới ở Nghệ An. Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An) đang kiến thiết dở dang thì Quang Trung qua đời. Trong khoảng từ năm 1789 đến năm 1792, Quang Trung đã ban hành nhiều chính sách lớn, tạo ra được những ảnh hưởng rất tốt đẹp. Ngay đầu năm 1789, Quang Trung ban hành Chiếu khuyến nông với những nội dung rất cụ thể như: kêu gọi nhân dân tích cực sản xuất, không bỏ ruộng hoang, người đi phiêu tán phải trở về quê cũ… Quang Trung trọng nông (coi trọng sản xuất nông nghiệp) nhưng không ức thương (ức chế sự phát triển thương mại). Đó là điểm độc đáo trong chính sách kinh tế của Quang Trung. Dưới thời Quang Trung, các ngành kinh tế thủ công nghiệp đều có cơ hội phát triển. Trong văn hóa, Quang Trung đặc biệt coi trọng việc học. Đầu năm 1789, với Chiếu lập học, Quang Trung đã thể hiện khá rõ hoài bão lớn của mình về việc mở mang nền giáo dục. Đặc biệt, Quang Trung rất đề cao chữ Nôm, muốn biến chữ Nôm thành chữ viết chính thức của nước nhà. Chính Quang Trung đã quyết định thành lập viện Sùng Chính, cơ quan chuyên trách về giáo dục của triều đình, đồng thời là cơ quan chuyên lo phiên dịch các sách từ chữ Hán ra chữ Nôm. Tuy bận rộn với ngổn ngang công việc nhưng Quang Trung vẫn không quên lưu tâm đến hoạt động của các tôn giáo, đến sự có mặt của các giáo sĩ phương Tây ở nước ta. Nhìn chung, thái độ của Quang Trung là rất chân thành. Sau khi tình hình trong vùng đất do Quang Trung quản lí đã tương đối ổn định, Quang Trung quyết định dốc lực lượng đánh trận cuối cùng với Nguyễn Ánh. Bấy giờ, Nguyễn Lữ đã mất, Nguyễn Nhạc thì cầu an, tự mãn,… chỉ có Quang Trung mới có thể đảm nhận được trọng trách này. Trước khi xuất quân, ngày 10 tháng 7 năm Nhâm Tí (nhằm ngày 27/8/1792), Quang Trung đã truyền hịch đến nhân dân cùng quan lại hai phủ Quy Nhơn và Quảng Ngãi. Rất tiếc, khi công việc đang được tiến hành một cách khẩn trương và thuận lợi thì đêm 29 tháng 7 năm Nhâm Tí (nhằm ngày 15/9/1792), Quang Trung đột ngột qua đời. Năm đó, Quang Trung vừa 39 tuổi. Một cuộc đời 39 tuổi xuân nhưng Quang Trung đã có hai mươi hai năm tả xung hữu đột, đánh Nam dẹp Bắc. Hai mươi hai năm – Quang Trung chỉ có tiến chứ chưa hề lùi. Hai mươi hai năm – Quang Trung chỉ có thắng chứ chưa hề bại, khiến cho mọi kẻ thù đều phải bạt vía, kinh hồn. Vị anh hùng kiệt xuất này ra đi, để lại cả một sự nghiệp lớn đang dang dở, để lại niềm kính trọng và thương tiếc khôn nguôi cho lớp lớp những thế hệ người Việt Nam yêu nước.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
15-12-2008, 03:22 AM
Bài viết: #23
Tiểu sử Hoàng đế Quang Trung (bản để in, file word).


File đính kèm
.rar  Tieu su QT.rar (Kích cỡ: 800.53 KB / Tải về: 73)
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Chủ đề đã đóng 


Có thể liên quan đến chủ đề
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới nhất
  Các bài viết về Quang Trung - Nguyễn Huệ Duanbaby92 11 70,376 02-10-2011 03:49 PM
Bài mới nhất: T-AnhCQT
Lightbulb "Thuyền cáng" giúp Quang Trung đại thắng? dainganxanh 0 4,173 23-02-2010 10:06 AM
Bài mới nhất: dainganxanh
  Chồng bà Trưng Trắc tên Thi hay Thi Sách? Arex 0 5,323 27-09-2009 09:47 AM
Bài mới nhất: Arex
  Tứ đại mỹ nhân Trung Quốc Duanbaby92 1 6,153 17-10-2008 05:39 PM
Bài mới nhất: un0ruit



Người đang duyệt chủ đề này: 1 khách