Đăng trả lời 
 
Đánh giá chủ đề:
  • 4 Phiếu - 4.75 Trung bình
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Các bài viết về Quang Trung - Nguyễn Huệ
26-09-2008, 09:14 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 03:33 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #1
Các bài viết về Quang Trung - Nguyễn Huệ
Kỳ mưu vua Quang Trung

Cách nay hơn hai trăm năm, tại kinh đô Phú Xuân, trước giờ tiến quân ra Bắc đánh đuổi giặc Thanh xâm lược, Nguyễn Huệ đã lập đàn làm lễ tế trời đất và đăng quang.

Trước ba quân đội ngũ chỉnh tề, gươm đao sáng loáng, Nguyễn Huệ bước lên đàn Nam Giao, kêu gọi:

- "Hỡi ba quân tướng sĩ! Chúng ta sẽ tiến ra Bắc Hà, đánh đuổi giặc Thanh, lấy lại bình yên cho trăm họ. Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Nhược bằng có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở".

Đoạn Nguyễn Huệ chỉnh trang lễ phục, bước xuống sân. Đội vệ binh khênh chiếc nhang án, khói hương nghi ngút, trên có mâm tiền phủ nhiễu điều. Nguyễn Huệ chắp tay khấn vái, đặng bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Tướng lĩnh quân sĩ chăm chú nhìn rất kỹ, đồng thanh reo lên: "Sấp, sấp, tất cả đều sấp! Đại thắng… đại thắng rồi…! " .

Nguyễn Huệ như mở cờ trong bụng, dõng dạc tuyên bố: "Hỡi ba quân! Đất trời phù hộ, đã báo cho ta điềm thắng trận. Chúng ta hãy đồng tâm nhất trí, nhất định sẽ đánh đuổi được giặc Thanh. Hãy nổi trống, truyền lệnh tiến quân…!".

Quả nhiên đêm mồng bốn rạng ngày mồng năm tết Kỷ Dậu (29-30/1/1789) đồn giặc ở Khương Thượng bị hạ, Thái thú Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Chủ soái Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng bỏ thành chạy về nước, không còn mảnh giáp. Gò Đống Đa trở thành di tích lịch sử vẻ vang của Việt Nam ta!

"Điềm trời" ấy thực ra chính là kỳ mưu của Nguyễn Huệ. Bởi thời ấy, mọi người còn cả tin vào Trời, Phật, Thần, Thánh. Dựa vào đó, Nguyễn Huệ bí mật đúc hai trăm đồng tiền cả hai mặt đều là sấp dùng để xin âm dương trong lễ đăng quang nhằm cổ vũ ba quân quyết chiến thắng.

Kể từ đó, hàng năm vào ngày mồng năm Tết nguyên đán, nhân dân Thăng Long lại nô nức về gò Đống Đa dự hội. Đây là lễ hội kỷ niệm chiến thắng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta do hoàng đế Quang Trung - người anh hùng áo vải Tây Sơn lãnh đạo.

Nguồn: Sưu tầm từ Internet
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
04-10-2008, 03:03 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 03:30 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #2
Con người Quang Trung – Nguyễn Huệ
Quang Trung - Nguyễn Huệ là một vị anh hùng dân tộc kiệt xuất. Hiện nay, chúng ta biết khá rõ về sự nghiệp của Quang Trung; nhưng hình dáng, tướng mạo, tính tình vua Quang Trung như thế nào lại rất ít khi được nhắc đến.

Theo Hoa Bằng trong Quang Trung – Anh hùng dân tộc thì “Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần”.

Theo Đại Nam chính biên liệt truyện thì “Nguyễn Huệ tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, cặp mắt sáng như chớp”.

Theo một cung nhân cũ nói với bà Thái Hậu, mẹ vua Lê Chiêu Thống lúc quân Thanh đang chiếm đóng Thăng Long thì “Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn siêu, sợ hơn sợ sấm sét…”.

Theo các tài liệu lịch sử cũ thì Nguyễn Huệ còn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và can đảm nữa.

Căn cứ như trên, chúng ta có thể thấy rằng Nguyễn Huệ có một thanh âm, một vẻ mặt, đôi mắt làm cho mọi người phải kính trọng. Sở dĩ người cung nhân của nhà Lê cho rằng Nguyễn Huệ có vẻ mặt hung dữ làm cho mọi người phải khiếp sợ vì người cung nhân ấy tuy không phải là kẻ thù, nhưng đã phục vụ những kẻ thù bại trận, vốn đã khiếp đảm về các việc làm của Nguyễn Huệ.

Lẽ đương nhiên là vẻ mặt Nguyễn Huệ có cái gì khiến cho người ta phải sợ thật, nhưng đó chỉ là đối với kẻ thù của ông mà thôi. Còn đối với bạn bè, đối với nhân dân, vẻ mặt của ông chỉ gây ra cái gì làm cho người ta phải tin phục. Chứng cớ là Giáo Hiến chỉ thấy “Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm, mắt như chớp sáng, tiếng như chuông vang” và biết ngay Nguyễn Huệ “là một thanh niên lỗi lạc có tương lai phi thường”.

Sử sách cũ nói Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Điều này, chúng ta có thể tin là đúng sự thật. Với phương tiện giao thông vận tải hồi thế kỉ XVIII, Nguyễn Huệ đã mang quân tiến vào Nam đánh quân chúa Nguyễn năm lần, mang quân ra Bắc ba lần. Không nhanh nhẹn cả về cách đi lại lẫn phép hành quân và không khỏe mạnh thì không thể đi Nam về Bắc luôn luôn và nhanh chóng như vậy. Sự đi lại của Nguyễn Huệ nhanh chóng nổi tiếng trong lịch sử. Người cung nhân của vua Lê đã phải than: “Xem hắn (Nguyễn Huệ) ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết”.

Nguyễn Huệ là một người rất can đảm. Để động viên tướng sĩ, mỗi khi ra trận, Nguyễn Huệ thường đi đầu. Sáng ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789), trong trận Ngọc Hồi, ông đã thân chinh đốc chiến. Sự can đảm của ông làm nức lòng tướng sĩ, khiến cho tướng sĩ hăng hái, ồ ạt tiến vào diệt quân Thanh ở Ngọc Hồi.

Trong cuộc sống và đấu tranh, Quang Trung - Nguyễn Huệ biểu thị nhiều phong cách, cá tính độc đáo.

Nguyễn Huệ rất ham học, học thầy, học trong cuộc sống và thực tiễn đấu tranh. Trong một bức thư gửi Nguyễn Thiếp, ông nói: “Quả đức học ở một sự nghe trông”. Ngô Thì Nhậm là người cộng tác gần gũi của Nguyễn Huệ đã nhận xét: “Quang Trung là người vốn tính ham học, dẫu trong can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lí. Ngày thường thì nghị luận, ý tứ rành mạch, khai mở được nhiều điều mà sách vở ngày xưa chưa từng biết”. Nhờ tinh thần ham học đó, Nguyễn Huệ đã trau dồi một nhận thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực và đạt đến một trình độ văn hóa khá cao.

Trong đấu tranh, Nguyễn Huệ là người cương nghị và quyết đoán nhưng trong cuộc sống và quan hệ bình thường lại rất vui tính, thích hài hước. Ông mê hát tuồng, hát trống quân và thích lối nói vần vè của dân gian.

Có một lần, vua Càn Long nhà Thanh gửi thư sang xin Quang Trung một đôi voi chiến. Tương truyền Quang Trung đã phê vào thư: "Thằng Kiền Long nó xin một đôi voi, chọn con nào cụt vòi cho nó một con".

Đối với kẻ thù của dân tộc, Quang Trung đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng, nhưng mỗi khi kẻ thù đã đầu hàng hoặc bị bắt làm tù binh thì lại được Quang Trung đối xử khoan dung, độ lượng.

Quang Trung Nguyễn Huệ là một anh hùng bách chiến bách thắng, một người táo bạo, quyết đoán nhưng cũng rất nhân ái, độ lượng, biểu thị ý chí và mơ ước lớn nhất của dân tộc ta là được sống trong độc lập, thanh bình, trong quan hệ hòa hiếu với lân bang.

Con người và sự nghiệp Quang Trung Nguyễn Huệ kết tinh và biểu thị tư tưởng, tình cảm, trí tuệ của nhân dân, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Sự nghiệp Quang Trung Nguyễn Huệ là một bản anh hùng ca của thế kỉ áo vải cờ đào, một thời đầy biến động và bão táp của đất nước. Sự nghiệp ấy cùng với con người ấy sống mãi trong lịch sử quang vinh của dân tộc và trong tình cảm, kí ức bất diệt của nhân dân.

(Theo Quang Trung Nguyễn Huệ - Những di sản và bài học)
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
04-10-2008, 10:07 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 03:42 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #3
Giai thoại về Nguyễn Huệ và Nguyễn Đăng Trường
Nguyễn Đăng Trường là quan tòa của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhưng đồng thời cũng là một nho sĩ có danh tiếng. Từ khi bắt đầu dựng cờ khởi nghĩa cho đến khi thành lập được vương triều, Nguyễn Huệ luôn nhận thức được vai trò to lớn của các nho sĩ, mong muốn họ tỉnh táo trước nguy cơ bị sa vào cơn mộng mị của quan niệm trung quân mù quáng. Vì những lẽ đó, Nguyễn Huệ rất muốn Nguyễn Đăng Trường chịu hợp tác với mình.

Sách Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12, đã ghi lại câu chuyện lịch sử này, đại loại như sau:

"Năm 1774, Chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Đàng Trong vừa bị Tây Sơn tấn công, vừa bị quân đội của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài vượt sông Gianh tấn công vào, chống đỡ không nổi, đành bỏ chạy tuốt vào phía Nam.

Nguyễn Đăng Trường không kịp chạy theo, đành phải đem mẹ già đến lánh nạn ở Quy Nhơn.

Bấy giờ, Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương đã chạy vào Gia Định. Nguyễn Đăng Trường bị quân Tây Sơn bắt, Nguyễn Huệ đối đãi Nguyễn Đăng Trường như khách quý, coi như thầy, thật lòng thuyết phục Nguyễn Đăng Trường hợp tác với mình xây dựng vương triều mới.

Nhưng Nguyễn Đăng Trường không chịu, một mực khước từ để ra đi. Không giữ lại được, Nguyễn Huệ đành lòng để Nguyễn Đăng Trường đi vào Nam. Khi chia tay Nguyễn Huệ nói:

- Tiên sinh ra đi lần này ắt nuôi ý muốn kéo lại trời đất, nhưng liệu có thể được chăng? Tôi e rằng ngày khác tiên sinh sẽ ăn năn không kịp nữa.

Nguyễn Đăng Trường đáp lại:

- Bậc đại phu ở đời, trước hết phải giữ đức trung và đạo hiếu. Ta nay dắt mẹ đi tìm vua thì trung hiếu đã rõ ràng. Còn như được hay mất, khốn cùng hay hanh thông… tất cả đều do mệnh trời cả thôi, có gì phải hối tiếc đâu.

Nguyễn Huệ cảm phục là người có chí, cấp thuyền lương cho đi. Tháng 4 năm 1777, Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tấn công Gia Định, đập tan toàn bộ dinh lũy và quân đội của nhà Nguyễn, khiến Nguyễn Ánh chỉ còn biết lẩn trốn hết chỗ này đến chỗ khác và Nguyễn Đăng Trường lại bị bắt. Gặp nhau, Nguyễn Huệ hỏi:

- Tiên sinh hẳn còn nhớ lời tôi nói ngày nào khi chia tay chứ? Nay tiên sinh nghĩ sao?

Nguyễn Đăng Trường cúi đầu, đáp lại:

- Nay chỉ có chết mà thôi, hà tất gì cứ phải hỏi?

Nguyễn Đăng Trường quay mặt về hướng bắc lạy mấy lạy rồi mới chịu chết. Năm 1822, triều Minh Mạng truy tặng Nguyễn Đăng Trường chức Thượng Thư".

Bàn về câu chuyện này, tác giả Nguyễn Khắc Thuần trong "Việt sử giai thoại" tập 7, đã viết:

"Mỗi thời có cách hiểu khác nhau về trung và hiếu, nhưng phàm đã là người thì phải biết hiếu, biết trung. Yêu hay ghét Nguyễn Đăng Trường là quyền riêng của mỗi người, không thể lấy quyền riêng ấy mà nói rằng lời của Nguyễn Đăng Trường là sai.

Nguyễn Huệ lúc ấy dầu mới chỉ có 23 tuổi nhưng đã đủ bình tĩnh để lắng nghe mọi người, kính thay!
Múc bớt một gáo nước, biển cả chẳng hề vơi, thả một Nguyễn Đăng Trường, Tây Sơn không hề suy yếu, đại trượng phu trong các đại trượng phu chính là Nguyễn Huệ đó thôi.

Bị bắt lần thứ hai, Nguyễn Đăng Trường đã tự bộc lộ rõ sự non kém của mình. Một là, nói theo cách sử cũ, ông xứng đáng xếp vào hàng… ngu trung. Hai là, Chúa đã chạy vào Nam, có còn đâu ở Phú Xuân mà quay mặt về hướng bắc để lạy. Trong sự lạy, nỗi khiếp sợ của muôn đời vẫn là lạy sai địa chỉ đó thôi.

Cương trực và gàn dở vốn là hai khái niệm rất khác nhau, vậy mà sao người đời vẫn thường hay lầm lẫn khái niệm này sang khái niệm nọ, tỉ như Nguyễn Đăng Trường".

(Theo Địa chí Bình Định)

Chúng ta đang sống ở ngày hôm nay và hướng tới ngày mai...
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
09-10-2008, 02:09 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 03:44 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #4
Giả thuyết vua Quang Trung bị Càn Long đầu độc
Cuối năm 1789, khi cử sứ giả sang nước ta phong vương, vua Càn Long có gửi tặng vua Quang Trung một chiếc áo long bào. Trên áo có thêu 7 chữ kim tuyến: "Xa tâm chiết trục đa điền thử". Mọi người không ai hiểu 7 chữ đó có ý gì.

Mùa thu năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung băng hà. Triều thần Tây Sơn mới bắt đầu suy diễn nội dung 7 chữ kim tuyến thêu trên chiếc áo tai ác kia.

Theo cách chiết tự và diễn nghĩa thì "Xa tâm chiết trục đa điền thử" có ý nói Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý. Vì chữ "Xa" và chữ "Tâm" đem ghép lại là chữ "Huệ"; "Chiết Trục" là gẫy trục; "Thử" là chuột mà chuột là "Tý" (năm Tý).

Như thế, phải chăng từ trước năm 1789, Càn Long đã đoán được số mạng của vua Quang Trung sẽ mất vào năm Tý? Nếu đúng như vậy, có thể xảy ra một trong hai khả năng:

1) Càn Long là vị vua tinh thông về thuật số, bấm độn, tính quẻ,… Ông ta đã biết trước Quang Trung sẽ chết vào năm Tý.

2) Chính Càn Long là người có âm mưu giết vua Quang Trung từ lâu và đã dùng thuật số ếm vào chiếc áo bào, hay gài độc vào 7 đại tự kim tuyến để vua Quang Trung khi mặc vào sẽ bị chất độc khuếch tán từ từ, sau 3 năm (từ 1789 đến 1792) thì chết.

Dù sao, đây cũng chỉ là một trong số rất nhiều giả thuyết về nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung.

Nguồn: Sưu tầm từ internet
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
01-11-2008, 01:39 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 01-11-2008 04:43 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #5
Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương có quan hệ họ hàng.
Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở nước ta là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10. Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch. Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng. Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ. Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất. Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa. Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân. Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12) Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu. Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802). Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ). Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822). Sau đây là gia phả họ Hồ nói lên mối quan hệ họ hàng giữa Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương. [Hình: 490bf7983c35c_f.JPG] (sưu tầm sách lịch sử)

Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
01-11-2008, 06:14 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 11-08-2009 11:17 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #6
Nguyễn Huệ quê gốc ở Quỳnh Đôi?
Theo "Trung chi II họ Hồ" (trong "Hồ Tông thế phả"), họ Hồ làng Quỳnh Đôi có các đời họ Hồ như sau: 1. Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684. 2. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm 3. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang 4. Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống 5. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Qui Nhơn. Theo sử sách thì quân của chúa Nguyễn đánh ra Nghệ An, bắt họ Hồ vào nam trong khoảng từ năm 1655 đến năm 1660 (đời Lê Thần Tông), đối chiếu với thông tin của Hồ Tông thế phả thì đó là đời thứ 4 - có Hồ Phi Phúc. Hồ Phi Phúc là cháu 4 đời của tổ Hồ Sĩ Anh, trong khi đó Hồ Sĩ Anh năm đó mới 37 tuổi. Ta làm phép toán thế này: Hồ Sĩ Anh sinh năm 1618, tới tận các cháu 4 đời, trong đó có Hồ Phi Phúc mới rời Quỳnh Đôi đi Nhân Lý và sau nữa mới vào Tây Sơn. Thế nhưng, theo sử sách, quân chúa Nguyễn đánh ra Nghệ An từ năm 1655, khi Sĩ Anh mới có 37 tuổi, làm sao đã có cháu 4 đời (không lẽ 3 đời liền đều lấy vợ năm... 11 tuổi để 12 tuổi có con, 12 tuổi đã có ... 4 con?) ? Mà dù tảo hôn lắm nữa thì làm sao những người cháu này đủ lớn (giỏi lắm thì ... biết đi!) để tự vào Nhân Lý và Tây Sơn? Rõ ràng, thông tin trên là không hợp lý! Do vậy, chúng ta chưa đủ cơ sở để kết luận anh em nhà Tây Sơn thuộc họ Hồ làng Quỳnh Đôi cũng như khẳng định Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương có họ hàng. Cho đến nay, mọi người mới chỉ chấp nhận ý kiến Nguyễn Huệ quê gốc tại làng Thái Lão, xã Hưng Thái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An mà thôi.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
18-11-2008, 10:22 AM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 04:01 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #7
Những ánh hào quang rực rỡ sắc xuân
Cách đây tròn 255 năm, trên mảnh đất Tây Sơn đã ra đời một con người mang đầy huyền thoại với dung mạo oai nghiêm, dũng khí phi thường, võ công hiển hách khiến ánh hào quang rực rỡ sắc xuân đến nay vẫn còn toả sáng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc và em là Nguyễn Lữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn lật đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn ở Đàng trong, đánh tan quân xâm lược Xiêm và thế lực của Nguyễn Ánh (1784 – 1785), lãnh đạo nghĩa quân lật đổ chế độ phong kiến họ Trịnh ở Đàng ngoài, xóa bỏ triều đại phong kiến nhà Lê mục nát (1786).

Trước sự xâm lược của phong kiến Mãn Thanh, ngày 22-12-1788 (25-11 Mậu Thân), tại kinh đô Phú Xuân (Huế), Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống lĩnh quân đội mở cuộc hành quân thần tốc ra Bắc.

Đến đầu xuân Kỷ Dậu (1789), quân đội của Hoàng đế Quang Trung đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, khôi phục nền độc lập, thống nhất của nước ta làm nên chiến thắng Đống Đa lịch sử.

Chiến thắng Đống Đa và những chiến công hiển hách khác luôn gắn liền với tên tuối của người anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hơn hai thế kỷ rưỡi qua đi, nhưng những huyền thoại về lòng dũng cảm, khí phách phi thường, sực mạnh vô địch của đội quân Tây Sơn dũng mãnh phi thường thiên biến vạn hoá của ông và bản thân ông vẫn còn vang vọng.

Cuộc hành quân thần tốc mùa xuân Kỷ Tỵ của đoàn quân Tây Sơn đến nay vẫn được coi là cuộc hành quân (bộ binh) nhanh nhất trong lịch sử mọi cuộc chiến tranh. Khởi binh từ Phú Xuân (Huế) ngày 22-11-1788, chỉ 40 ngày sau quân Tây Sơn đã có mặt ở thành Thăng Long ăn mừng đại thắng.

Riêng chặng Phú Xuân ra Nghệ An hơn 300 km chỉ mất có 4 ngày. Sử sách còn ghi “Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp, đi lại vùn vụt, mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp.”

Quang Trung - Nguyễn Huệ nêu gương sáng về tính hiếu học, cầu tiến bộ. Ngồi trên ngôi báu nhưng ông rất ham đọc sách. Tây Sơn lược thuật còn ghi “Khi xong công việc bộn bề, Trẫm nghỉ ngơi vui ý đọc sách”. Ông còn chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách cho vua.”

Trong suốt hơn hai mươi năm cầm quân dẹp thù trong, đánh giặc ngoài, Quang Trung - Nguyễn Huệ luôn bách chiến bách thắng. Sách “Tây Sơn luợc thuật” viết “Lúc lâm trận thật anh hung lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp yên phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được. Thậm chí, địch quân mới nghe tin Quang Trung tiến đãnh đã sợ mất mật, bủn rủn chân tay, hồn bay phách lạc, bỏ chạy.”

Vua Quang Trung có rất nhiều tên gọi. Thuở ấu thơ có tên là Hồ Thơm. Lớn lên đổi họ Hồ sang Nguyễn (Nguyễn Văn Thơm). Thầy học đổi tên cho thành Nguyễn Huệ. Ngoài ra có sách ghi ông tên là Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Văn Bình. Nguyễn Huệ là tên được ông sử dung nhiều nhất và cũng được biết đến phổ biến nhất.

Quang Trung - Nguyễn Huệ có 3 Hoàng hậu, 17 người con 11 hoàng tử và 6 công chúa. Người được phong làm chính cung Hoàng hậu đầu tiên (1789) là Phạm Thị Liên. Năm 1791 (Tân Hợi), bà Hoàng họ Phạm qua đời, ông cưới bà Bùi Thị Nhạn (cô ruột nữ tướng Bùi Thị Xuân) làm chính cung Hoàng Hậu. Đồng thời ông còn tấn phong công chúa Lê Ngọc Hân được vua Lê Hiển Tông gả cho từ năm 1786 (Bính Ngọ) làm Bắc cung Hoàng hậu.

Quang Trung - Nguyễn Huệ qua đời đột ngột đêm 16-9-1792 (tức 29 tháng Bảy Nhâm Tý) thọ 39 tuổi. Bộ “Hình luật thư” của triều đại Tây Sơn, việc Bắc phạt đánh Thanh đòi đất, việc xây dựng Phượng Hoàng Trung đô ở Nghệ An để rời đô về quê (ông người gốc Nghệ An, sinh ra ở Bình Định), cùng biết bao hoài bão cải cách, xây dựng quốc gia thịnh vượng của ông đều bỏ dở. Nhưng những chiến công hiển hách của thời Tây Sơn mà điển hình là đại thắng mùa xuân Kỷ Tỵ, vẫn là ánh hào quang rực rỡ chói sáng mỗi độ xuân về và mãi muôn đời sau.

Theo Xuân Duy (Báo điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam)
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
17-12-2008, 01:22 AM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 04:06 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #8
Vua Quang Trung với tư tưởng "Dựng nước lấy học làm đầu"
"Dựng nước lấy học làm đầu". Đó là ý tưởng nhìn xa trông rộng của vua Quang Trung nói riêng và của triều đại Tây Sơn nói chung khi được thành lập trên cơ sở một phong trào nông dân rộng rãi chưa từng có trong lịch sử dân tộc .

Công cuộc xây dựng đất nước sau chiến thắng giặc Mãn Thanh đặt lên vai người lãnh đạo đất nước. Vua Quang Trung đã chứng tỏ mình chẳng những là nhà lãnh đạo kiệt xuất của phong trào Tây Sơn mà còn tỏ ra có bản lĩnh lẫn tầm chiến lược trong việc xây dựng đất nước văn hiến sau chiến thắng.

Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.

Ngọc Hân công chúa đã khóc chồng bi thiết trong Ai tư vãn như vậy. Trong Ai tư Vãn, ngọc Hân công chúa so sánh công đức của vua Quang Trung với các vua Thang Võ, Nghiêu Thuấn - Là sự đánh giá rất cao về người anh hùng áo vải. Nhưng như thế chỉ với Nho giáo không thôi, Quang Trung không đủ sức để kiến tạo lại đất nước sau chiến thắng. Quang Trung đã tự trang bị cho mình một vốn tri thức, văn hóa mang ý nghĩa thiết thực.

Khắc họa hình ảnh vua Quang Trung Nguyễn Huệ như là một thiên tài không ngừng tiến thủ, Ngô Thì Nhậm trong Bang giao hải thoại đã viết: " Quang Trung là người vốn tính ham học, dẫu trong can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lý. Ngày thường nghị luận ý tứ rành mạch, khơi mở nhiều điều mà sách vở ngày xưa chưa từng biết". Ở đây chúng ta chú ý đến tinh thần ham học hỏi và biết vận dụng tri thức sách vở vào thực tiễn của vua Quang Trung. Điều đó thật khác xa với nhiều kẻ sĩ được đào luyện dưới cửa Khổng, sân Trình. Bản thân Quang Trung cũng phải học văn hóa và lịch sử Việt Nam do một quan bí thư riêng "mỗi tháng sáu lần chầu để giảng giải kinh sách" nên ông khá am hiểu lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Hơn ai hết, Quang Trung nhận thức rất rõ vai trò của tri thức trong công cuộc xây dựng đất nước. Sau chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đã dần dần để các văn thần nắm các chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền. Điều đó được nêu rõ trong Chiếu lập học và chiếu cầu hiền của nhà vua trong mục đích "văn trị" của công cuộc trị quốc. Chiếu cầu hiền nói rõ: "Dựng nước lấy học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc... Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra sức giúp nước".

Việc làm cấp thiết của vua Quang Trung là tổ chức kỳ thi hương đầu tiên ở Nghệ An để tuyển chọn nhân tài do Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo. Chiếu lên ngôi đã quy định: "Nho sinh và sinh đồ cứ đợi đến kỳ thi vào thi, hạng ưu thì tuyển vào, hạng kém thì bãi về trường xã học...". Như vậy, Quang Trung rất chú trọng đến chất lượng và tính thực tiễn của việc học "Học cho rộng, rồi ước lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm". Đó là một thế hệ nhân tài, quan lại không chỉ có hiểu biết mà còn có khả năng làm việc thực sự để phục vụ vương triều, đất nước.

Do yêu cầu như thế nên người dạy học phải đạt 2 tiêu chuẩn: Kiến thức và đức hạnh. Chiếu lập học nêu: "Chọn nho sĩ trong xã có đạo đức, hạnh kiểm, đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò xã hội".

Thời vua Quang Trung, xã thôn đều có học xã chăm lo việc học. Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến, xã thôn có trường công lập. Còn ở kinh đô, văn miếu là học đường chính ở Bắc thành thường xuyên hoạt động đào tạo. Quang Trung giao cho Nguyễn Thiếp đảm đương chức vụ Viện trưởng viện sùng chính.

Hàng loạt chính sách cải cách giáo dục đã được đưa ra cho phù hợp với xã hội mới như đề cao chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của dân tộc. Trong thi cử, Quang Trung bắt giám khảo ra đề bằng chữ Nôm, thí sinh làm bài bằng chữ Nôm. đây là lần đầu tiên nhà nước phong kiến đưa chữ Nôm vào thi cử. Đó là lòng tự tôn dân tộc trong văn hóa. Quang Trung thuận theo ý Nguyễn Thiếp để cải cách giáo dục về phương pháp: "Nước Việt ta từ khi lập quốc đến bây giờ, chính học lâu ngày đã mất đi. Người ta chỉ tranh đua tập việc học từ chương cầu lợi... Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá gia vong, những tệ kia ở đó mà ra", cho nên việc học "phải tuần tự mà tiến, đọc cho kỹ mà ngẫm nghĩ cho tinh, học cho rộng rồi ước lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm họa may nhân tài mới có thể thành tựu, nước nhà nhờ đó mà vững yên".

Chính vì coi trọng việc học như vậy cho nên, một mặt chế độ giáo dục ấy ắt sẽ sản sinh ra những nhân tài biết đem công sức mình xây dựng đất nước (tiếc rằng nhà Tây Sơn tồn tại quá ngắn, chỉ 4 năm), mặt khác tập hợp được quanh mình những bậc hiền tài lỗi lạc đương thời như: Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở... Họ là những văn thần, võ tướng của cựu trào, thấm nhuần tư tưởng: "Trung thần bất sự nhị quân", nhưng họ thấy ở Quang Trung một tấm lòng thành chiêu hiền đãi sĩ, thật lòng muốn xây dựng đất nước, chăm lo cho trăm họ, chứ không thuộc loại vua chỉ biết vun vén, củng cố cho ngai vàng của mình.

Thái độ tôn trọng việc học và nhân tài đất nước thể hiện từ trong bản chất, có ngay từ những ngày đầu, khi Quang Trung vào thành Thăng Long, và sau đó trong lời phê vào đơn của dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại những hàng bia đá ở Văn Miếu đã bị đổ vì chiến cuộc:

Nay mai dọn lại nước nhà
Bia nghè lại dựng trên tòa nhân gian.

Nguồn: Sưu tầm

Chúng ta đang sống ở ngày hôm nay và hướng tới ngày mai...
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
17-12-2008, 01:36 AM
Bài viết: #9
Quang Trung - một ánh sao băng trên bầu trời lịch sử Việt Nam
Sự nghiệp oanh liệt mà chớp nhoáng của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792) như kỳ công xóa bỏ nạn phân tranh Trịnh-Nguyễn, rồi võ công bình Xiêm (1786) diệt Thanh (1789) thì người Việt nào cũng biết, nhưng tính giản dị khiêm tốn, lòng nhân đạo, đức hiếu sinh và ý chí tôn trọng người hiến tài của người anh hùng áo vải này thì không phải ai cũng am tường. Vậy Quang Trung Nguyễn Huệ đã nói những gì và làm những gì? Tháng 12-1788, trước nạn xâm lược của quân Thanh, Nguyễn Huệ đã tuyên đọc chiếu lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân: "[...] Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn, không một thước đất, vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn mong được vua hiền cứu đời yên dân nên trẫm đã tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi, đi xe cỏ, cốt quét sạch loạn lạc, cứu vớt dân trong vòng nước lửa [...]. Hỡi muôn dân trăm họ, nhân nghĩa trung chính là đạo lớn của người ... Trẫm năm nay có cả thiên hạ, sẽ dìu dắt dân và đạo lớn, đưa dân lên đài xuân". Sau đại thắng Đống Đa (30-1-1789), Quang Trung không hề tự đắc tự mãn mà lại muốn bày tỏ lòng nhân đạo và tinh thần hiếu hòa của mình nên đã ra lệnh đối xử tử tế với tất cả tù binh, hàng binh trước khi tha họ về Trung Quốc, lại cho thu nhặt hài cốt giặc trên chiến trường, chôn thành 12 gò đống và lập đàn cúng tế. Nhân dịp này, Quang Trung mượn lời bài văn tế nói lên tấm lòng khoan dung độ lượng của người chiến thắng: "[...] Nay ta cho thu nhặt xương cốt chôn vùi. Bảo lập đàn bên sông cúng tế. Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc. Xuất của kho đắp điếm đống xương khô. Hồn các ngươi đừng vất vưởng dưới trời Nam. Hãy lên đường quay về nơi hương chỉ". Chỉ trong vòng nửa năm sau Đống Đa, nước Đại Việt của Quang Trung đã lập lại quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh để dân ta được sống trong độc lập và hòa bình. Cũng sau Đống Đa, Quang Trung ban chiếu hiểu dụ các quan văn võ triều cũ, cũng là dịp vua bày tỏ ý chí trân trọng người tài, lòng nhân đạo và đức hiếu sinh: "Trẫm một lòng yêu mến nhân tài nên ban đặc ân xá hết tội lỗi cho các ngươi, tất cả những ai bị giam cầm trẫm đều tha hết, những kẻ trốn tránh trẫm không truy nã để tỏ lượng khoan hồng". Mượn lời bài chiếu cầu hiền tài, Quang Trung còn muốn nhấn mạnh hơn nữa: "Trẫm nghĩ rằng sức một cây gỗ không chống nổi tòa nhà lớn, mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình. Vậy ban chiếu xuống quan liêu lớn nhỏ và chúng dân trăm họ ai có tài năng, mưu kế hay giúp ích cho đời, cho phép các quan văn võ được tiến cử, lại cho dẫn tới yết kiến tùy tài bổ dụng. [...] Nay trời đất thanh bình, chính là lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức đều nên gắng lên để được rỡ ràng chốn vương đình". Rõ ràng là những văn kiện quan trọng như chiếu Lên ngôi, chiếu Cầu hiền, chiếu Cầu lời nói thẳng, chiếu Mở rộng ân đức, chiếu Lập học, chiếu Khuyến nông... đều đánh dấu một thời thái bình thịnh trị và văn hiến.
(Lê Văn Hảo)

Chúng ta đang sống ở ngày hôm nay và hướng tới ngày mai...
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
05-01-2009, 07:22 PM (Chỉnh sửa lần cuối: 02-10-2011 03:47 PM bởi T-AnhCQT.)
Bài viết: #10
Vua Quang Trung cầu hiền
Không phải ngẫu nhiên mà Quang Trung – Nguyễn Huệ có thể tập hợp quanh mình một số đáng kể những trí thức tài năng, thành tâm theo đuổi sự nghiệp “giúp dân dựng nước”. Chính sách cầu hiền của Quang Trung tranh thủ được sự đóng góp của nhiều sĩ phu yêu nước có tư tưởng tích cực, tiến bộ trong xã hội đương thời. Thái độ cầu hiền chân thành, mềm mỏng của Quang Trung thể hiện rõ nhất là đối với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp - thiếu một tấm lòng chân thành, thiếu một suy nghĩ sâu xa, có lẽ Quang Trung đã không thể đưa Nguyễn Thiếp trở lại với đời và đem hết tài năng ra phục vụ đất nước.

Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) quê ở thôn Mật Thiết, xã Kim Lộc, huyện La Sơn (nay thuộc Đức Thọ, Hà Tĩnh). Ông là người thông minh, từng đỗ đạt và hơn 10 năm làm quan cho chính quyền Lê - Trịnh. Năm 1769, chán với thời cuộc, ông bỏ việc triều đình về cày ruộng, đọc sách và dạy học. Người đương thời rất khâm phục ông cả về tài đức nên tôn xưng ông là La Sơn Phu Tử (tạm hiểu là người thầy đạo cao đức trọng ở đất La Sơn).

Nghe danh Nguyễn Thiếp, chỉ tính riêng năm 1787, Nguyễn Huệ đã ba lần cho người đem lễ vật và thư ra mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân giúp việc. Lời lẽ trong thư rất chân thành, thể hiện sự trọng vọng hết mực. Nguyễn Huệ đã ví Nguyễn Thiếp như Ngoạ Long (biệt hiệu của Khổng Minh), xem Nguyễn Thiếp như thầy – “nay Phu Tử nghĩ đến thiên hạ với dân sinh vụt dậy ra đi, để cho quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy". Cả ba lần, Nguyễn Thiếp đều viết thư từ tạ không vào.

Tháng 5/1788, trên đường ra Bắc Hà, Nguyễn Huệ dừng chân ở núi Nghĩa Liệt và cho mời Nguyễn Thiếp ra gặp. Mặc dù có ra tiếp chuyện Nguyễn Huệ nhưng Nguyễn Thiếp vẫn chưa chịu nhận lời cộng tác.

Cuối năm 1788, khi đem quân ra đánh quân Thanh, Quang Trung lại gặp Nguyễn Thiếp ở Nghệ An để hỏi về kế sách đánh giặc. Nguyễn Thiếp trả lời: "Chúa công ra đó nếu đánh gấp thì không quá 10 ngày, giặc Thanh sẽ bình được". Lời bộc bạch của Nguyễn Thiếp đã khẳng định thêm quyết tâm đánh thần tốc của Quang Trung.

Quang Trung không chỉ có sự quyết tâm làm cho kỳ được điều mình muốn mà còn tỏ ra thực sự thành tâm tìm tới “người hiền”. Không lâu sau ngày chiến thắng, Quang Trung viết thư cho mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân một lần nữa với lời cảm ơn: “Người xưa bảo rằng, một lời nói mà dấy nổi cơ đồ, lời tiên sinh quả có thế thật”.

Thái độ chân thành, kiên nhẫn của Quang Trung dần dần lay chuyển được ý định từ chối cố chấp của Nguyễn Thiếp.

Khi có chủ trương xây kinh đô mới tại Nghệ An với mục đích lâu dài là làm kinh đô của nước Việt thay vì Phú Xuân (Huế), Nguyễn Huệ - Quang Trung đã gửi thư nhờ Nguyễn Thiếp chọn đất (tháng 6 và 9 năm 1788). Ban đầu, Quang Trung dự định chọn vùng đất Phù Trạch - Nghệ An để xây dựng kinh đô. Nguyễn Thiếp đã gửi thư trình tấu khuyên nên chọn vị trí ở Yên Trường. Tháng 10/1788, Quang Trung ban chiếu gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cùng Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Thận về việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại núi Dũng Quyết của xã Yên Trường, huyện Châu Lộc (nay thuộc phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An).

Mùa thu năm 1789, Nguyễn Thiếp được cử làm chánh chủ khảo kỳ thi Hương ở Nghệ An. Năm 1791, vua Quang Trung lại mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân đàm đạo và giao nhận chức trưởng Viện Sùng chính, trông nom về văn hoá, giáo dục, dịch các sách chữ Hán ra chữ Nôm.
Nguyễn Thiếp đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng cho chính sách của vua Quang Trung về văn hoá, giáo dục; lựa chọn người tài cho triều đình; đề nghị vua Quang Trung định lại các khu vực hành chính ở Nghệ An; tuyển chọn lính tráng, thu thuế sao cho phù hợp,…

Bên cạnh La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Quang Trung – Nguyễn Huệ còn ghi nhận công lao, trọng dụng nhiều hiền tài khác như Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Du,… Với chính sách cầu hiền, Quang Trung đã tập hợp sức mạnh toàn dân tộc làm nên những trang sử hào hùng của thế kỉ XVIII.

Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, bài học chiêu hiền đãi sĩ của Quang Trung Nguyễn Huệ vẫn nóng hổi tính thời sự. Dù ở bất cứ thời đại nào, nhân tố con người phải luôn được coi trọng, những nhân tài cần được tạo mọi cơ hội để có thể đem hết sức mình cống hiến cho đất nước.
Tìm tất cả bài viết của thành viên này
Like bài viết Trích dẫn bài này trong bài trả lời
Đăng trả lời 


Có thể liên quan đến chủ đề
Chủ đề: Tác giả Trả lời: Xem: Bài mới nhất
Video Bài thuyết trình thật hay của sinh viên Việt Nam Sa. 0 1,980 07-02-2013 09:33 AM
Bài mới nhất: Sa.
  Giai thoại Nguyễn Bỉnh Khiêm Khoai 0 2,994 14-02-2011 01:41 AM
Bài mới nhất: Khoai
  1001 câu hỏi đáp về lịch sử Việt Nam Khoai 46 194,611 26-09-2010 09:44 AM
Bài mới nhất: space
Lightbulb "Thuyền cáng" giúp Quang Trung đại thắng? dainganxanh 0 4,296 23-02-2010 10:06 AM
Bài mới nhất: dainganxanh
  Quốc hiệu Việt Nam qua các thời đại Duanbaby92 0 10,396 20-01-2010 09:09 AM
Bài mới nhất: Duanbaby92
  Danh sách Trạng Nguyên Việt Nam Misschow_dethuong 4 11,380 05-12-2009 12:31 PM
Bài mới nhất: tutinvaochinhminh
  Chồng bà Trưng Trắc tên Thi hay Thi Sách? Arex 0 5,628 27-09-2009 09:47 AM
Bài mới nhất: Arex
  Một số giai thoại trong lịch sử Việt Nam Khoai 2 11,827 09-03-2009 02:24 AM
Bài mới nhất: Duanbaby92
  Hình tượng con rồng Việt Nam Duanbaby92 9 34,088 01-03-2009 08:49 AM
Bài mới nhất: khanhkid
  Về Mặt trận Việt Minh IloveDK4 2 12,558 28-12-2008 07:44 PM
Bài mới nhất: IloveDK4



Người đang duyệt chủ đề này: 1 khách